Đời sống

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ

Chia sẻ:
PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ

“Tôi bước chân vào giảng đường Đại học Y Hà Nội năm 1991, tốt nghiệp năm 1997 rồi thi đỗ nội trú ngoại, học tập tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Trường Đại học Y Hà Nội.

Tính từ đó đến nay, tôi đã bước sang năm thứ 30 trong nghề. Đó là một quãng đường dài, không thể nhớ hết tất cả các ca bệnh, các ca phẫu thuật mình từng trải qua”, PGS Nguyễn Mạnh Khánh bắt đầu câu chuyện với phóng viên Dân trí.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 1
PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 3

Thưa Phó giáo sư Nguyễn Mạnh Khánh, độc giả thường mong muốn được biết những câu chuyện phía sau cánh cửa phòng mổ. Với gần 30 năm công tác, chắc hẳn PGS có rất nhiều điều để chia sẻ. Nhưng chúng tôi muốn hỏi điều này trước tiên, ca bệnh nào khiến ông nhớ nhất?

– Khi còn là sinh viên và trong thời gian học nội trú hơn 3 năm ở Việt Đức, tôi gặp rất nhiều ca đa chấn thương, có những trường hợp nặng đến mức khó hình dung.

Một trong những ca tôi nhớ nhất là vào khoảng năm 1999-2001, cách đây 25-26 năm. Đó là một bệnh nhân nữ ngoài 20 tuổi bị tai nạn giao thông rất nặng. Người bệnh bị đa chấn thương phức tạp, tổn thương nhiều cơ quan và vùng khung chậu. Ca mổ phải phối hợp nhiều chuyên khoa: phẫu thuật tiêu hóa, xử lý tổn thương ổ bụng, tiết niệu, cùng chấn thương chỉnh hình.

Với chấn thương chỉnh hình, lúc đó bệnh nhân tổn thương rất nặng vùng bên trái. Chúng tôi phải thực hiện một đại phẫu trong cấp cứu. Đây là dạng phẫu thuật rất lớn, mất nhiều máu và thường đi kèm đa chấn thương. Trường hợp này còn phức tạp hơn vì một phần khung chậu bị tổn thương nghiêm trọng, buộc phải xử lý rộng để cứu người bệnh.

Bệnh nhân vỡ xương chậu, chúng tôi phải phẫu thuật tháo nửa khung chậu. Đây là một trong những phẫu thuật khó nhất, nặng nhất và rất hiếm gặp, gần như là ca đầu tiên tại bệnh viện.

Xương chậu là bệ đỡ cho các tạng trong tiểu khung. Khi mất đi phần nâng đỡ này, việc điều trị và chăm sóc sau mổ rất khó khăn. Sau phẫu thuật, bệnh nhân được chuyển về hồi sức chống nhiễm khuẩn.

Tôi cùng các bác sĩ tiếp tục chăm sóc vết thương. Sau nhiều tuần điều trị tích cực, bệnh nhân ra viện trong tình trạng ổn định. Rất tiếc, thời điểm đó chưa có công nghệ thay thế xương chậu nhân tạo như hiện nay, và sau nhiều năm chúng tôi cũng không còn liên lạc với người bệnh.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 5

Tôi cũng nhớ một ca cấp cứu lúc khoảng 2 giờ sáng, khi còn học nội trú ngoại chung ở Việt Đức. Thời đó, nội trú ngoại phải học tất cả: sọ não, tim mạch lồng ngực, tiêu hóa, tiết niệu, chấn thương, nhi khoa… để có nền tảng cơ bản.

Đó cũng là một bệnh nhân nữ bị tai nạn giao thông nặng, có nhiều tổn thương phối hợp. Tôi vào phụ mổ trước, sau đó được các thầy, các anh hỗ trợ để trực tiếp xử lý. Ca đó vừa phải mổ bụng, vừa xử lý vết thương vùng tầng sinh môn. Chúng tôi vừa xử lý vết thương tầng sinh môn, vừa khâu vết thương âm đạo – những kỹ thuật thường gặp nhiều hơn ở chuyên ngành sản phụ khoa.

Những trường hợp như vậy để lại ấn tượng rất sâu.

Có một trường hợp tôi từng chia sẻ nhiều lần: bệnh nhân nữ 105 tuổi, là mẹ liệt sĩ ở Sơn Dương, Tuyên Quang. Người bệnh bị gãy cổ xương đùi, được chuyển từ Bệnh viện tỉnh Tuyên Quang về Việt Đức. Sau khi đánh giá toàn trạng, chúng tôi chỉ định thay khớp háng. Ca mổ diễn ra thuận lợi, bệnh nhân ra viện sau khoảng một tuần.

Nửa năm sau, cháu bệnh nhân gọi điện báo bà lại ngã và gãy chân còn lại. Tháng 8/2024, bệnh nhân xuống Việt Đức lần thứ hai và tôi tiếp tục phẫu thuật thay khớp háng bên còn lại. Năm sau, khi bệnh nhân 106 tuổi, tôi có dịp đi chỉ đạo tuyến ở Tuyên Quang và tình cờ gặp lại bà tại Bệnh viện Sơn Dương. Bà tự đi đến, rất vui vẻ và minh mẫn. Đó là một trường hợp rất đặc biệt.

Từ câu chuyện này, tôi muốn nói thêm về điều tôi học được khi sang Pháp. Tôi rất ngạc nhiên vì mô hình bệnh tật ở đó khác Việt Nam. Một khoa có khoảng 40-50 giường thì 2/3 là người cao tuổi, đa phần trên 80 tuổi, với nhiều bệnh lý: gãy xương, thoái hóa khớp, đau cột sống, bệnh lý khớp…

Ở Việt Nam thời điểm đó, bệnh nhân chủ yếu là người trẻ, tai nạn giao thông rất nhiều. Khi ấy, các quy định về tốc độ, đội mũ bảo hiểm, không uống rượu bia khi lái xe chưa được kiểm soát chặt như bây giờ. Tai nạn lao động cũng nhiều, ý thức an toàn lao động chưa cao. Ngoài ra còn nhiều tai nạn thương tích trong sinh hoạt, nhất là dịp gần Tết. Vì thế, chúng tôi không gặp nhiều bệnh nhân cao tuổi như ở Pháp.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 7

Cơ duyên nào đã đưa ông đến với ngành nội soi khớp, và ông đã phát triển nó ra sao?

– Sau khi tốt nghiệp nội trú năm 2001, tôi sang học tại Trường Đại học Bordeaux 2, Cộng hòa Pháp, từ năm 2001 đến cuối năm 2002. Thời điểm đó, phương tiện và kỹ thuật chấn thương chỉnh hình ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Chúng ta chưa có điều kiện tiếp cận nhiều kỹ thuật mới, máy móc và trang thiết bị cũng rất thiếu.

Sang Pháp, tôi học được nhiều kỹ thuật mới, trong đó có phẫu thuật nội soi khớp. Đề tài tốt nghiệp nội trú của tôi tại Pháp là về nội soi khớp gối. Khi ấy ở Việt Nam, nội soi khớp gối còn rất sơ khai, gần như chưa phổ biến. Tôi thấy kỹ thuật này rất hay, rất mới và nghĩ rằng nếu học được, mình có thể mang về phục vụ người bệnh ở Bệnh viện Việt Đức.

Sau khi về Việt Nam, tôi công bố bài báo đầu tiên trên Tạp chí Ngoại khoa, tổng kết những ca đã làm ở Pháp và những ca đầu tiên tại Bệnh viện Việt Đức về nội soi khớp gối.

Dù khó khăn, chúng tôi vẫn cố gắng triển khai kỹ thuật mới để người bệnh được hưởng lợi. Ban đầu chỉ là xử lý rách sụn chêm, thoái hóa khớp gối, dị vật trong khớp. Sau này mới phát triển đến tái tạo dây chằng, khâu sụn chêm, ghép sụn khớp và nhiều kỹ thuật khác.

Từ đó, tôi tham gia chuyển giao kỹ thuật cho nhiều bệnh viện. Đến nay, kỹ thuật nội soi khớp đã trở nên phổ biến hơn nhiều. Chúng ta đã tiệm cận và theo kịp trình độ kỹ thuật của thế giới và khu vực.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 9

Một lĩnh vực chuyên sâu khác trong chấn thương chỉnh hình là phẫu thuật thay khớp. Trước đây, thay khớp là phẫu thuật rất “cao sang”, vì chúng ta thiếu vật tư và trang thiết bị. Với những bệnh lý như gãy cổ xương đùi, hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi, thoái hóa khớp háng, di chứng sau chấn thương hoặc bệnh lý khớp từ nhỏ, người bệnh gần như không có phương án thay thế khớp mới.

Dần dần, chúng ta có thêm trang thiết bị, có nhà cung cấp, có đơn vị giới thiệu khớp nhân tạo, rồi bắt đầu triển khai thay khớp háng. Đặc biệt, thay khớp gối khi đó là một phẫu thuật rất mới ở Việt Nam.

Trong chấn thương chỉnh hình, có thể nói nhiều kỹ thuật hiện nay của Việt Nam không kém các nước trên thế giới; khoảng cách về trình độ, trang thiết bị và phương tiện đã được rút ngắn rất nhiều.

Phó giáo sư nói Việt Nam đã tiệm cận thế giới về chuyên môn, chắc chắn là nói về yếu tố nguồn nhân lực. Vậy lực lượng phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình của chúng ta hiện nay ra sao?

– Trong chấn thương chỉnh hình, có thể nói khá tự hào rằng các bác sĩ Việt Nam rất khéo tay. Phẫu thuật viên Việt Nam học kỹ thuật mới rất nhanh, nhiều khi nhanh hơn cả tốc độ chung trong khu vực.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng y học Việt Nam nói chung và các chuyên khoa ngoại nói riêng còn thua một số điểm. Đầu tiên là nghiên cứu cơ bản. Không phải bác sĩ Việt Nam không muốn nghiên cứu, nhưng nghiên cứu cơ bản đòi hỏi nguồn lực rất lớn: nghiên cứu vật liệu mới, thiết bị mới, thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, mô hình động vật, kiểm tra cơ học, thử nghiệm lâm sàng theo các pha, rồi mới đến cấp phép và sử dụng trên người.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 11

Một bệnh viện hoặc một trường đại học khó có thể đủ nguồn lực để làm trọn vẹn các nghiên cứu như vậy. Đây là điểm chúng ta khó theo kịp các nước phát triển nếu không có đầu tư lớn.

Tôi nghĩ Đảng và Nhà nước đã nhìn nhận rõ vấn đề này, thể hiện qua các Nghị quyết 57 về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 72 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đây là bước rất đột phá khi nguồn lực được tập trung hơn cho nghiên cứu cơ bản.

Hiện nay, trong chấn thương chỉnh hình, chúng ta chủ yếu làm nghiên cứu ứng dụng. Tức là các nước tiên tiến có kỹ thuật mới, chúng ta tiếp nhận và ứng dụng. Ví dụ 20-30 năm trước là phẫu thuật nội soi, thay khớp. Chúng ta chưa tự sản xuất được dàn máy nội soi, vật liệu khớp nhân tạo, nên vẫn chủ yếu ứng dụng công nghệ của thế giới.

Gần đây, khoa học công nghệ phát triển liên tục, trong phẫu thuật xương khớp có nhiều hướng mới như robot. Nếu triển khai, chúng ta vẫn phải mua robot từ nước ngoài. Ở Việt Nam, nếu có đơn vị sản xuất được robot phẫu thuật thì rất đáng mừng, nhưng hiện nay chưa có. Với kỹ thuật cũ, chúng ta mổ rất tốt, nhưng khi cần trang thiết bị hiện đại, chúng ta vẫn phụ thuộc nhiều vào công nghệ nhập khẩu.

Tôi mong trong chuyên ngành chấn thương chỉnh hình cũng như y học nói chung, Việt Nam có thể làm chủ công nghệ, sản xuất được trang thiết bị phẫu thuật trong nước. Khi đó, chúng ta vừa chủ động thiết kế, nghiên cứu, vừa có cơ hội vươn tầm thế giới.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 13
PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 15

Nói đến phẫu thuật viên, người ta hay nhắc tới “đôi bàn tay vàng”. Theo Phó Giáo sư, điều gì tạo nên khác biệt giữa một người làm kỹ thuật và một phẫu thuật viên thực sự có “đôi bàn tay vàng”? Yếu tố năng khiếu chiếm bao nhiêu phần trăm?

– “Đôi bàn tay vàng” là cách nói dân dã, là tình cảm người bệnh và gia đình dành cho phẫu thuật viên mà trong nghề chúng tôi thường gọi là “mổ mát tay”. Nhưng ở góc độ phẫu thuật viên, người thầy và người quản lý, tôi nghĩ đó chỉ là điều kiện cần, chưa đủ.

Với nghề phẫu thuật, ít nhất phải có ba yếu tố.

Thứ nhất là đôi tay. Đã làm nghề mổ xẻ thì đôi tay khéo léo rất quan trọng. Nếu bác sĩ có đôi tay khéo, phù hợp với mong muốn của mình, đó là lợi thế lớn.

Nhưng thứ hai, quan trọng không kém, là cái đầu. Tôi thường nói với học trò và bác sĩ trẻ rằng các em phải nghĩ bằng cái đầu, phải học tập, nâng cao trình độ. Nếu không, chúng ta sẽ biến mình thành “thợ mổ”, chỉ biết mổ như một người thợ phụ. Muốn trở thành “kiến trúc sư” trong phẫu thuật, chúng ta phải có kiến thức, học thuật, được đào tạo bài bản và cập nhật liên tục.

Thứ ba là trái tim. Không chỉ phẫu thuật viên, mà tất cả bác sĩ đều cần trái tim biết thông cảm, biết chia sẻ với người bệnh. Phải đặt mình vào vị trí người bệnh, vào hoàn cảnh gia đình người bệnh. Khi thấy người bệnh đau đớn, mình phải cảm nhận được nỗi đau ấy để đưa ra phác đồ và lựa chọn điều trị tối ưu.

Bác sĩ có thể cần “cái đầu lạnh” trong chuyên môn, nhưng sâu thẳm vẫn phải có trái tim nhân hậu. Khi mình còn lành lặn, khỏe mạnh, mình rất may mắn. Nhưng khi trở thành người bệnh, ta mới thấy mình cần bấu víu vào ai, gọi ai, cầu cứu ở đâu. Tôi luôn truyền tinh thần đó cho các thế hệ sau, từ học trò đến bác sĩ tuyến Trung ương, tuyến dưới, miền núi, hải đảo. Theo tôi, phẫu thuật viên giỏi phải hội tụ ba yếu tố: cái đầu, đôi tay và trái tim.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 17

Khi bước ra khỏi phòng mổ và gặp người nhà bệnh nhân, ông thường nói câu gì đầu tiên?

– Phẫu thuật viên là một nghề rất áp lực. Khi bước vào phòng mổ, dù ca bệnh dễ hay khó, chúng tôi đều mang theo nhiều gánh nặng trên vai: kỳ vọng của người bệnh, gia đình và yêu cầu chuyên môn.

Dù chuẩn bị rất kỹ, không thể tiên lượng hết mọi vấn đề. Trong đầu bác sĩ luôn có áp lực: Ca này có được như mong muốn không, có an toàn không, có đáp ứng kỳ vọng của người bệnh không.

Khi mổ xong một ca, tôi chưa dám nói ngay là thành công, vì còn cần thời gian theo dõi. Nhưng nếu giai đoạn đầu thuận lợi, cảm giác khi bước ra khỏi phòng mổ giống như trút được một gánh nặng rất lớn. Lúc đó, gặp người nhà bệnh nhân, câu mà chúng tôi luôn mong được nói là: “Ca mổ đã thuận lợi”.

Tuy nhiên, sau đó còn rất nhiều vấn đề: theo dõi hậu phẫu, tình trạng toàn thân, vết mổ, phục hồi chức năng, biến chứng và nguy cơ trong quá trình điều trị. Vì vậy, với chúng tôi, mổ xong chỉ là một giai đoạn. Đến khi bệnh nhân ra viện, đó mới là lần trút được gánh nặng thứ hai.

Nhưng, cảm giác nhẹ nhõm và vui nhất là khi tình cờ gặp lại bệnh nhân ở đâu đó trên đất nước này. Tôi đã gặp nhiều trường hợp như vậy. Có người nhận ra tôi khi đi công tác, khi đến tỉnh xa, thậm chí ngoài đường. Họ nói: “Bác sĩ ơi, cách đây 5 năm, 10 năm, 20 năm bác từng mổ cho tôi, giờ tôi đi lại tốt rồi”. Đó mới là lúc thực sự vui.

Tuần trước, khi lên Lào Cai mổ từ thiện, tôi tình cờ gặp lại một người nhà bệnh nhân ở Hưng Yên. Chị nhận ra tôi và nói tôi từng mổ cho chồng chị nhiều năm trước. Cách đây 2 năm, khi đi công tác ở Con Cuông, Nghệ An, gần biên giới Lào, tôi cũng gặp lại bệnh nhân cũ. Những cuộc gặp như vậy mang lại rất nhiều niềm vui và hạnh phúc, và giúp bác sĩ giải tỏa áp lực.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 19

Bên cạnh những ca thành công, những ca mổ nào khiến ông cảm thấy chưa thành công, thậm chí có thể gọi là thất bại?

– Trong cuộc đời phẫu thuật viên, nếu chưa từng gặp ca bệnh nào không như mong muốn, chắc chắn là bác sĩ đó chưa mổ bao giờ. Có mổ thì có thể gặp tai biến, biến chứng, có những ca không đạt kết quả như kỳ vọng.

Tai biến ngoài mong muốn có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào.

Khi trải qua những ca bệnh không như mong muốn, tâm lý phẫu thuật viên rất nặng nề. Có những tình huống về mặt y học mình chưa thể cứu hết, hoặc có tai biến ngoài mong muốn.

Từ những trường hợp tai biến ngoài mong muốn, chúng tôi luôn rút thêm kinh nghiệm và áp dụng cho các bệnh nhân sau này: sàng lọc thật kỹ những nguy cơ, phối hợp với tim mạch, gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh… để dự phòng và xử lý tốt hơn.

Mỗi ca không như mong muốn đều khiến mình mất ngủ. Từ khi còn học nội trú, rồi khi mới được cầm dao mổ chính, tôi đã có thói quen ghi lại trong sổ tay chuyên môn. Đến giờ tôi vẫn giữ thói quen đó: tên bệnh nhân, ngày vào viện, ngày ra viện, phẫu thuật gì, tổn thương trong mổ, xử trí ra sao, phim sau mổ thế nào.

Nghề phẫu thuật xương khớp gần như luôn có phim X-quang kiểm tra sau mổ. Nhìn lại từng ca, mình tự hỏi đã đẹp chưa, đã hài lòng chưa, có cần rút kinh nghiệm gì không.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 21

Sau gần 30 năm cầm dao mổ, ông thấy điều khó nhất là gì?

Qua nhiều năm tích lũy, tôi nhận thấy điều khó nhất không phải những ca bệnh nặng mà là dám đối diện với chính mình.

Tôi luôn khuyên bác sĩ trẻ: Các em phải dám đối diện với bản thân. Mổ chưa ưng ý là chuyện có thể xảy ra, nhưng không được bỏ qua, không được tự thỏa mãn, không được lấp liếm điều chưa hoàn mỹ.

Khi gặp ca chưa ưng ý, phải trao đổi sòng phẳng về chuyên môn với các anh, các thầy, bệnh viện hoặc chuyên gia để tìm cách xử lý tốt nhất cho người bệnh.

Quan trọng nhất là người bệnh được hưởng lợi từ quá trình học hỏi của bác sĩ. Nếu có sai sót nhỏ mà mình lờ đi, giấu đi, thậm chí cho bệnh nhân ra viện sớm vì sợ bác sĩ khác nhìn thấy phim chưa đạt, tôi không ủng hộ.

Tôi quan niệm chuyên môn phải sòng phẳng, không giấu dốt, không giấu sai. Khó thì hỏi, chưa ưng ý thì xử lý lại, để người bệnh luôn là trung tâm và được tối ưu quyền lợi.

Đến nay, tại bệnh viện cũng như khoa của tôi, tôi luôn khuyến khích bác sĩ trẻ học ngoại ngữ thật tốt. Khi chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, mình phải nắm bắt được.

Đồng thời, các bác sĩ cần có cơ hội ra nước ngoài học tập, xem thế giới có gì mới, phương tiện nào cập nhật để mang về phục vụ người bệnh.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 23

Phó giáo sư có thể mô tả kỹ cảm giác trăn trở của mình trước một ca bệnh như thế nào không?

– Chúng tôi vẫn nói vui là ở Bệnh viện Việt Đức, 10 phẫu thuật viên có lẽ 7-8 người từng đau dạ dày. Nghề này rất áp lực. Thời gian làm việc không theo quy chuẩn: có thể mổ ngày, mổ đêm, bỏ bữa trưa, qua bữa tối, ăn lúc 2-3 giờ sáng là chuyện bình thường. Đặc thù cấp cứu và ca bệnh khiến giờ giấc sinh hoạt rất thất thường.

Công việc hằng ngày đã áp lực, những ca khó còn gây trăn trở hơn nhiều. Có những ca trước mổ, bản thân mình phải suy nghĩ rất nhiều: có nên mổ không, mổ bằng phương pháp nào, chọn đường mổ ra sao, dùng dụng cụ gì, sau mổ tập luyện thế nào, liệu phẫu thuật có mang lại lợi ích hơn cho người bệnh không…

Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức mỗi năm mổ khoảng 55.000 đến gần 100.000 ca đại phẫu, riêng khoa chúng tôi mổ khoảng 11.000 ca. Trong số đó, không phải ca nào cũng thuận lợi, đúng như sách vở. Có những ca rất khó, đòi hỏi phải tính toán kỹ từ trước mổ, trong mổ đến sau mổ.

Trong mổ, đôi khi cũng có tình huống đột biến ngoài mong muốn. Sau mổ, bệnh nhân ban đầu tốt nhưng vài ngày sau có thể nặng lên vì bệnh lý phối hợp, đặc biệt ở người cao tuổi: suy hô hấp, viêm phổi, ho khạc kém… Tất cả đều tạo nên áp lực lớn cho thầy thuốc.

Chấn thương chỉnh hình cũng là nghề đòi hỏi sức khỏe. Ngày xưa khi tôi chọn nội trú ngoại rồi chấn thương chỉnh hình, không nhiều bác sĩ theo ngành này.

Có người nghĩ đây là ngành “thợ mộc”, vì trong mổ phải bê, mang, vác, dùng búa, đục, kìm, kéo, cưa, cắt… Nói vui là vừa giống thợ xẻ, vừa giống thợ điêu khắc. Nhưng thực ra, nghề này đòi hỏi sự phối hợp giữa sức khỏe, đôi tay khéo, đầu óc tính toán và tư duy chuyên môn. Chính vì vậy, mỗi ca bệnh đều khiến người phẫu thuật viên đau đáu.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh nói điều khó nhất sau 30 năm cầm dao mổ - 25

Cảm ơn Phó giáo sư đã chia sẻ rất nhiều khía cạnh của nghề chấn thương chỉnh hình. Nếu dành một lời khuyên cho độc giả Dân trí nói riêng và người dân nói chung, Phó giáo sư muốn nói gì?

Tôi vẫn hay nói vui với bệnh nhân rằng: tốt nhất là đừng để mắc bệnh, đừng phải đến bệnh viện. Cực chẳng đã chúng ta mới phải vào viện, cực chẳng đã bác sĩ mới phải phẫu thuật. Vì vậy, phòng bệnh hơn chữa bệnh là lời khuyên đầu tiên và quan trọng nhất.

Phòng bệnh rất rộng, tùy theo từng lứa tuổi, từng nhóm bệnh. Trước hết là phòng tránh tai nạn thương tích: an toàn lao động, an toàn giao thông, không phóng nhanh vượt ẩu, không uống rượu bia khi lái xe, tuân thủ luật giao thông. Chỉ riêng những điều đó đã giúp giảm rất nhiều nguy cơ gãy tay, gãy chân hay các chấn thương nặng.

Với các bệnh lý không liên quan đến tai nạn, người dân cần duy trì lối sống lành mạnh, ăn uống đủ chất, vận động hợp lý. Người cao tuổi cần chú ý dinh dưỡng, phòng chống loãng xương, bởi ít vận động khiến xương mất đi nhiều hơn khả năng bù đắp, dễ dẫn đến gãy xương khi té ngã.

Ở lứa tuổi trung niên, quá trình chuyển hóa bắt đầu chậm lại, nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp, tiểu đường, gút cũng cao hơn. Những bệnh này không chỉ ảnh hưởng sức khỏe chung mà còn làm tăng nguy cơ biến chứng nếu phải phẫu thuật, chẳng hạn nhiễm trùng vết mổ ở bệnh nhân tiểu đường. Vì vậy, cần ăn uống điều độ, sinh hoạt lành mạnh, vận động và tập luyện đúng mức.

Với người chơi thể thao, cần khởi động kỹ, làm ấm cơ, làm mềm khớp, tập từ nhẹ đến nặng, lựa chọn môn thể thao phù hợp với tuổi và thể trạng. Quan trọng nhất là phải lắng nghe cơ thể, không nên cố quá sức.

Đó là những lời khuyên phổ quát cho nhiều nhóm tuổi, nhóm bệnh và đối tượng khác nhau.

Xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư đã dành thời gian trò chuyện!

Nguồn: Dân Trí