Đời sống

Nhiều bác sĩ y học cổ truyền “giấu bằng” làm trái nghề: Vì sao nên nỗi?

Chia sẻ:
Nhiều bác sĩ y học cổ truyền “giấu bằng” làm trái nghề: Vì sao nên nỗi?

Xuyên suốt chiều dài phát triển của y học nước nhà, hàng vạn bác sĩ y học cổ truyền đã được đào tạo bài bản, nhưng một thực tế diễn ra: Nhiều người có chuyên môn phải đi làm trái ngành vì thiếu biên chế, trong khi các trạm y tế xã – nơi người dân cần Đông y nhất – lại vắng bóng bác sĩ chuyên trách.

TTND.GS.TS Trương Việt Bình, nguyên Giám đốc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, Chủ tịch Hội Nam y đã có những chia sẻ thẳng thắn về “điểm nghẽn” nhân lực và những giải pháp mang tính sống còn cho ngành.

Thừa ở trên, trắng ở dưới

Cách đây 20 năm, khi GS.TS Trương Việt Bình bắt tay vào thành lập Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, mục tiêu lớn nhất là giải cơn khát nhân lực cho ngành.

Nhiều bác sĩ y học cổ truyền “giấu bằng” làm trái nghề: Vì sao nên nỗi? - 1

TTND.GS.TS Trương Việt Bình, nguyên Giám đốc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, Chủ tịch Hội Nam y (Ảnh: NVCC).

Thời điểm đó, theo ông nhiều tỉnh miền Trung hay Đồng bằng sông Cửu Long không có đủ bác sĩ để thành lập một bệnh viện y học cổ truyền tuyến tỉnh. Sau hai thập kỷ, Học viện đã cung ứng cho xã hội khoảng 12.000 bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền.

Thế nhưng, khi con số đã đủ, họ lại vấp phải một bức tường vô hình mang tên “biên chế”.

GS Bình trăn trở rằng, bác sĩ y học cổ truyền hiện nay thực tế chưa nhiều nhưng lại “tràn thừa” vì quá ít vị trí việc làm trong hệ thống y tế.

“Tại các bệnh viện tuyến huyện trước đây, khoa y học cổ truyền thường chỉ là một bộ phận nhỏ lẻ với định biên nhân sự ít ỏi.

Hệ quả là hàng ngàn bác sĩ được đào tạo bài bản 6 năm đại học, thêm 2 năm thực hành tốn kém, cuối cùng phải “giấu bằng” đi học thêm các chứng chỉ “định hướng” của Tây y như Da liễu, Phục hồi chức năng để có thể xin được một công việc khác.

Họ đang bị buộc phải cất tấm bằng Đông y vào tủ để tồn tại”, GS Bình phân tích.

Theo GS Bình nghịch lý này dẫn đến một hệ lụy trực tiếp cho người dân. Y học cổ truyền vốn sinh ra từ nhân dân và cực kỳ hữu dụng khi điều trị các bệnh mới phát ngay tại cơ sở.

Thế nhưng, do không có định biên bác sĩ y học cổ truyền tại tuyến xã, người dân khi đau lưng, mỏi gối hay tăng huyết áp, thay vì được châm cứu ngay tại trạm y tế địa phương, họ phải vượt 40-50km lên bệnh viện tuyến trên để điều trị.

Nhiều bác sĩ y học cổ truyền “giấu bằng” làm trái nghề: Vì sao nên nỗi? - 2
Nhiều bác sĩ y học cổ truyền “giấu bằng” làm trái nghề: Vì sao nên nỗi? - 3

Điều trị châm cứu rất hiệu quả với nhiều bệnh lý (Ảnh: Minh Nhật).

Khoảng cách địa lý và chi phí đi lại đang trở thành rào cản ngăn người nghèo tiếp cận với những phương pháp chữa bệnh rẻ tiền nhưng hiệu quả của cha ông.

Sự biến mất của những ông lang

Theo GS Bình, sự bất cập này còn nằm ở chỗ hiệu quả đóng góp của y học cổ truyền thường bị xem nhẹ hoặc lãng quên.

GS Bình dẫn chứng thực tế tại không ít các bệnh viện tuyến huyện trước đây, dù nhân lực y học cổ truyền chỉ chiếm 5-6%, nhưng các dịch vụ châm cứu, bấm huyệt, bốc thuốc lại đảm nhiệm tới 40% thu nhập cho toàn đơn vị.

“Anh chỉ cho 5% ngân sách nhưng bắt người ta làm ra 40% giá trị, đó là một điểm nghẽn kinh khủng về tư duy quản lý”, GS Bình khẳng định.

Nhiều bác sĩ y học cổ truyền “giấu bằng” làm trái nghề: Vì sao nên nỗi? - 4

“Chúng ta đang thừa bác sĩ học “chữ” nhưng lại thiếu đi những người thầy thuốc thực chứng từ nhân gian”, GS Bình nhấn mạnh (Ảnh: Getty).

Bên cạnh đó, sự biến mất của các “ông lang” gia truyền cũng là một nỗi đau của ngành.

Theo GS Bình, từ năm 1980, quy định bắt buộc phải được đào tạo theo hệ thống giáo dục quốc dân mới được hành nghề đã khiến nhiều người nắm giữ bí quyết chữa bệnh nghìn đời bị dẹp bỏ vì không có bằng cấp chính quy.

“Chúng ta đang thừa bác sĩ học “chữ” nhưng lại thiếu đi những người thầy thuốc thực chứng từ nhân gian”, GS Bình nhấn mạnh.

Việc xóa sổ các ông lang không chỉ là xóa đi một “chức danh” mà là cắt đứt mạch nguồn kinh nghiệm tích lũy ngàn năm.

Y học cổ truyền Việt Nam vốn xuất phát từ nhân dân, từ những quan sát về môi trường, khí hậu và thổ nhưỡng để tìm ra cây thuốc phù hợp với thể trạng người Việt (Nam dược trị Nam nhân).

GS Bình xót xa phân tích rằng, khi không còn các ông lang tại địa phương, những kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây cỏ quanh nhà – vốn rất hiệu quả cho các bệnh mới phát – đã bị mai một.

“Ví dụ, người dân trước đây chỉ cần hái lá ổi để trị tiêu chảy, hay dùng cây cỏ hôi để chữa viêm xoang, nhưng nay do thiếu người hướng dẫn và bảo tồn kiến thức tại cộng đồng, họ buộc phải phụ thuộc hoàn toàn vào thuốc kháng sinh của Tây y”, GS Bình chỉ ra.

Việc cần làm ngay

Để Y học cổ truyền không còn là “đứa con yếu thế” trong hệ thống y tế, GS.TS Trương Việt Bình cho rằng, chúng ta không thể chỉ kêu gọi bằng tinh thần hay những bản báo cáo thành tích. Thay vào đó, cần những cuộc cách mạng thực sự trong tư duy quản lý, đào tạo và đầu tư tài chính.

Đưa y học cổ truyền về tuyến xã

Theo GS Bình tuyến y tế cơ sở là “trận địa” quan trọng nhất của y học cổ truyền vì đây là nơi khởi nguồn của thuốc Nam và các phương pháp chữa bệnh dân gian hữu dụng.

Để giải quyết tình trạng thừa bác sĩ ra trường nhưng xã lại trắng biên chế, GS. Bình đề xuất mỗi trạm y tế xã phải có định biên riêng cho ít nhất một bác sĩ y học cổ truyền thực thụ.

Nhiều bác sĩ y học cổ truyền “giấu bằng” làm trái nghề: Vì sao nên nỗi? - 5

Theo GS Bình, bác sĩ y học cổ truyền rất cần thiết cho tuyến y tế cơ sở (Ảnh: Mạnh Quân).

Việc có bác sĩ chuyên trách tại xã sẽ mang lại lợi ích kép:

Thứ nhất là tiết kiệm cho dân. Người dân nghèo có thể được châm cứu, bấm huyệt hay dùng thuốc Nam tại chỗ để cắt cơn đau lưng, đau khớp hay tăng huyết áp mà không phải tốn nhiều tiền bạc và thời gian lên tuyến trên.

Thứ hai là bảo tồn kinh nghiệm dân gian. Bác sĩ tại xã mới là người trực tiếp kế thừa, kiểm chứng và phát triển những bài thuốc quý trong cộng đồng, từ đó làm giàu thêm kho tàng tri thức Nam y.

Bên cạnh đó, GS Bình nhấn mạnh, cần có một cơ chế luật định riêng để công nhận và bảo tồn tri thức của những người có kinh nghiệm thực chứng trong dân gian, đưa y học cổ truyền thực sự trở về với cộng đồng thay vì chỉ nằm trong các viện nghiên cứu hay các phòng khám tư nhân tại thành phố lớn

Kết hợp Đông – Tây y trong chính mỗi thầy thuốc

Một hiến kế tâm đắc khác của GS Bình là phải thay đổi hoàn toàn quan niệm về sự kết hợp Đông – Tây y.

Hiện nay, sự kết hợp này thường chỉ mang tính hình thức.

“Kết hợp Đông – Tây y không nên là một bác sĩ Tây y ngồi cạnh một bác sĩ Đông y. Hai ông không hiểu nhau và luôn có sự tranh luận, thậm chí là coi thường lẫn nhau”, GS Bình phân tích.

GS Bình khẳng định, sự kết hợp phải nằm trong chính mỗi người thầy thuốc. Ông đề xuất mô hình đào tạo chuyên khoa hóa y học cổ truyền: Sau khi tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, người thầy thuốc sẽ đi sâu vào các chuyên khoa như Sản khoa y học cổ truyền, Nội tiết y học cổ truyền, hay Thần kinh y học cổ truyền.

“Khi đó, một bác sĩ chuyên khoa Sản y học cổ truyền sẽ vừa biết sử dụng máy siêu âm, xét nghiệm hiện đại của Tây y, vừa biết sử dụng bài thuốc Nam và các huyệt đạo để điều trị cho sản phụ.

Thực hiện được điều này, y học cổ truyền Việt Nam sẽ tạo ra một sự khác biệt hoàn toàn so với thế giới, tạo ra hiệu quả điều trị cao vì tận dụng được ưu điểm của cả hai trường phái y học”, GS Bình tin tưởng.

Công bằng ngân sách và cơ chế quản lý độc lập

Suốt 70 năm qua, ngân sách cho y học cổ truyền chỉ dừng ở mức 5%. GS. Bình cho rằng đây là một sự bất cập lớn.

Ông hiến kế, ngân sách dành cho y học cổ truyền phải được nâng lên ít nhất 20% để tương xứng với tỷ trọng bệnh nhân và đóng góp thực tế.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần một cơ quan quản lý độc lập với y học cổ truyền.

GS Bình đề xuất thành lập một cơ quan tương đương Cục Trung y Trung dược như mô hình của Trung Quốc. Cơ quan này sẽ trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội, có chức năng xây dựng các luật định, cơ chế tài chính và bảo hộ dược liệu riêng biệt.

“Y học cổ truyền Việt Nam là một “mỏ vàng” chưa được khai thác đúng tầm. Với lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu bốn mùa và bề dày hàng nghìn năm lịch sử “Nam dược trị Nam nhân”, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một nền y tế đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng để làm được điều đó, “điểm nghẽn” về nhân lực và tư duy quản lý phải được tháo gỡ ngay từ bây giờ”, GS Bình khẳng định.

Nguồn: Dân Trí