Chuyên gia lý giải nghịch lý nhập siêu trong bối cảnh sản xuất tăng tốc
Theo số liệu do Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 5, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 99,07 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,5%; nhập khẩu tăng 30,8%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 13,8 tỷ USD.
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 64,26 tỷ USD, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 165,2 tỷ USD, tăng 34,3%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 215,99 tỷ USD, chiếm 94,1%. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 92,6 tỷ USD.

Xe chở hàng thông quan qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Ảnh: Nguyễn Dương).
Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng 5 nhập siêu 5,21 tỷ USD. Tính chung 5 tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 13,8 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,1 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,76 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 6,96 tỷ USD.
Doanh nghiệp đang tích trữ nguyên liệu cho chu kỳ sản xuất mới
TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhìn nhận khía cạnh tích cực qua nhập siêu các tháng đầu năm là sự chủ động tăng “tích trữ” nguyên liệu của doanh nghiệp nhằm tạo sức bật cho chu kỳ sản xuất mới, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và tạo đà cho xuất khẩu trong các quý tiếp theo.
Theo ông, nhóm hàng tư liệu sản xuất gồm máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, điện tử chiếm phần lớn tổng kim ngạch nhập khẩu, cho thấy đây là hiện tượng nhập khẩu trước nguyên vật liệu nhằm phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
“Nhu cầu tích trữ nguyên liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp trong thời gian vừa qua đã tăng đột biến. Điều này cho thấy các doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang chuẩn bị cho một chu kỳ sản xuất mới. Doanh nghiệp hiện nay đẩy mạnh việc tích trữ hàng hóa, tư liệu sản xuất, nguyên nhiên vật liệu…”, TS. Lê Duy Bình nói.
Theo ông Bình, nền kinh tế phục hồi mạnh với GDP quý I ước tăng 7,83% đã khiến các doanh nghiệp chủ động đẩy mạnh mua sắm nguyên nhiên vật liệu cũng như tư liệu sản xuất để chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất mới. Đây là một trong những yếu tố thúc đẩy nhập khẩu tăng, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc khá lớn vào hoạt động chế biến, chế tạo phục vụ xuất khẩu.
Diễn biến của khu vực sản xuất cũng cho thấy lượng nguyên liệu và tư liệu sản xuất nhập khẩu đã góp phần hỗ trợ hoạt động công nghiệp trong nước. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 ước tăng hơn 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số này tăng trên 9%, mức cao nhất của cùng kỳ kể từ năm 2021. Riêng ngành chế biến, chế tạo tăng gần 9,5%, tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng chính.
Theo TS Lê Duy Bình, đây là tín hiệu cho thấy việc gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc và linh kiện đã hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực chế biến, chế tạo và đáp ứng các đơn hàng trong thời gian tới.
“Bên cạnh đó, các xung đột địa chính trị trên thế giới thời gian qua liên tục gây rủi ro cho vận tải biển, logistics và chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này khiến chi phí nhập khẩu các mặt hàng năng lượng thiết yếu như xăng dầu, than đá, khí đốt tăng cao, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp chủ động tăng dự trữ đầu vào nhằm tránh thiếu hụt nguồn cung và hạn chế nguy cơ đứt gãy sản xuất trong thời gian tới”, ông nhìn nhận.

Container ở cửa khẩu Hữu Nghị (Ảnh: Nguyễn Bắc).
Theo TS Lê Duy Bình, tác động từ các xung đột quân sự tại Trung Đông cũng ảnh hưởng lớn đến giá năng lượng và nhiều mặt hàng nguyên liệu đầu vào, qua đó làm gia tăng tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong thời gian vừa qua.
Mặt khác, số liệu nhập khẩu cũng cho thấy kinh tế Việt Nam tiếp tục phụ thuộc lớn vào khu vực FDI. Kim ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32,3%, đạt 126,37 tỷ USD, nhanh hơn đáng kể so với tốc độ xuất khẩu của nhóm này. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước ghi nhận thâm hụt 15,61 tỷ USD, còn khu vực FDI duy trì mức thặng dư 8,5 tỷ USD.
“Thêm nữa, ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của quy mô sản xuất lớn, buộc các chuỗi lắp ráp công nghệ cao phải nhập khẩu linh kiện từ Trung Quốc và Hàn Quốc”, ông Bình nói.
Tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều lĩnh vực tại Việt Nam vẫn còn thấp, đặc biệt là điện tử gia dụng khoảng 30-35%, điện tử xe máy khoảng 40%, xe tải nhẹ khoảng 55%, ô tô cỡ nhỏ chỉ khoảng 10-20% và ngành cơ khí khoảng 20-30%. Do đó, các doanh nghiệp trong những lĩnh vực này vẫn phải nhập khẩu lượng lớn nguyên vật liệu, thiết bị và phụ tùng từ nước ngoài để phục vụ sản xuất.
Xuất khẩu Việt Nam có thể tăng 16% nhờ làn sóng đầu tư AI
Bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu Công ty Chứng khoán MB (MBS), dự báo tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam năm nay có thể đạt 15-16%.
Động lực chính đến từ sự phục hồi mạnh của thương mại hàng hóa toàn cầu, đặc biệt là ngành điện tử – lĩnh vực thế mạnh của Việt Nam. Theo dự báo của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), thương mại hàng hóa điện tử toàn cầu sẽ tăng khoảng 14% so với năm 2025 nhờ làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI).
Bên cạnh đó, việc Mỹ điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ các mức thuế đối ứng cũng góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Theo bà Trần Thị Khánh Hiền, mức thuế nhập khẩu bình quân đối với hàng hóa Việt Nam vào Mỹ đã giảm từ 21,6% xuống khoảng 16%, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu sang thị trường này.
Ngoài các yếu tố trên, chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu tiếp tục được đẩy mạnh, với trọng tâm là các thị trường có yêu cầu cao nhưng mang lại giá trị gia tăng lớn như EU và Hàn Quốc. Đồng thời, Việt Nam đang thúc đẩy đàm phán và hoàn tất các hiệp định thương mại tự do với nhiều đối tác mới, trong đó có UAE, Israel và Qatar.
Ở chiều ngược lại, đại diện MBS cho rằng nhập khẩu cũng sẽ tăng trưởng tương đương xuất khẩu, ở mức 15-16% trong năm nay. Xu hướng này phản ánh nhu cầu gia tăng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ nhằm thu hẹp thặng dư thương mại với nước này, đồng thời cho thấy nhu cầu lớn đối với máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ phục vụ mở rộng sản xuất cũng như đầu tư hạ tầng.
Trên cơ sở đó, đại diện MBS ước tính thặng dư thương mại của Việt Nam trong năm nay sẽ đạt khoảng 23 tỷ USD.
Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) Việt Nam tháng 5 đạt 52,8 điểm, tăng từ 50,5 điểm của tháng 4 và là mức cao nhất kể từ tháng 2. Nguyên nhân chính là đơn hàng và sản lượng tăng mạnh nhờ doanh nghiệp tích trữ hàng trước lo ngại gián đoạn từ xung đột Trung Đông.
Con số trên 50 điểm cho thấy ngành sản xuất đang mở rộng, đánh dấu tháng thứ 11 liên tiếp điều kiện kinh doanh cải thiện.
Nguồn: Dân Trí
