Kinh tế

"Bẫy" sở hữu kỳ nghỉ tại các nước ra sao?

Chia sẻ:
"Bẫy" sở hữu kỳ nghỉ tại các nước ra sao?

Gần đây, dư luận trong nước đặc biệt chú ý trước thông tin cơ quan công an khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức hợp đồng “sở hữu kỳ nghỉ” với số tiền lên tới 2.700 tỷ đồng, hệ lụy từ làn sóng đầu tư thiếu kiểm soát này đang ngày một hiện rõ.

Không chỉ tại Việt Nam, các biến tướng của “sở hữu kỳ nghỉ” cũng là vấn đề nhức nhối trên toàn cầu. Các hồ sơ pháp lý từ Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) và nhiều tổ chức quốc tế cho thấy, hàng loạt đường dây lừa đảo tinh vi đã hình thành, nhắm thẳng vào tâm lý muốn thanh lý hoặc cho thuê lại các gói dịch vụ này của khách hàng.

Bẫy sở hữu kỳ nghỉ tại các nước ra sao? - 1

Mô hình lừa đảo sở hữu hợp đồng kỳ nghỉ đang bị cảnh báo mạnh trên toàn cầu với nhiều chiêu trò tinh vi khó nhận diện (Ảnh minh họa: ChatGPT).

Những chiếc bẫy tinh vi mang tên “thanh lý hợp đồng”

Theo các tài liệu từ FTC, mô hình lừa đảo phổ biến nhất hiện nay là mạo danh các đơn vị môi giới để thu phí trả trước. Kẻ gian thường chủ động liên lạc qua điện thoại hoặc email, khẳng định chắc chắn đã có sẵn người mua hoặc khách thuê đang chờ đợi với mức giá hấp dẫn. Để hoàn tất thủ tục, chủ sở hữu được yêu cầu phải nộp trước một khoản phí gọi là chi phí hành chính, thuế chuyển nhượng hoặc phí thẩm định. Số tiền này thường dao động từ vài trăm đến hàng ngàn đô la.

Một hồ sơ thực tế từ FTC ghi nhận cơ quan này đã triệt phá đường dây mang tên Pro Timeshare Resales, đơn vị đã chiếm đoạt ít nhất 15 triệu USD của người tiêu dùng.

Thủ đoạn của nhóm này là yêu cầu khách hàng nộp trước khoản phí từ 2.500 USD trở lên kèm theo lời hứa hẹn sẽ bán hoặc cho thuê bất động sản kỳ nghỉ trong thời gian rất ngắn. Sau khi nhận tiền, chúng tiếp tục vẽ ra các lý do pháp lý khác để đòi thêm tiền và cắt đứt liên lạc hoặc từ chối hoàn trả khi nạn nhân sốt ruột đòi lại.

Bên cạnh đó, các công ty hủy hợp đồng giả mạo cũng mọc lên như nấm. Những đơn vị này đánh trúng tâm lý muốn thoát khỏi gánh nặng phí bảo trì định kỳ của những người đang gặp khó khăn về tài chính cá nhân. Chúng đưa ra các cam kết chắc chắn hủy bỏ hợp đồng thành công 100% chỉ trong vòng 30-90 ngày và yêu cầu đóng phí dịch vụ từ 3.000-10.000 USD.

Đầu năm 2026, một cặp vợ chồng tại Texas đã mất trắng 7.500 USD cho một doanh nghiệp dạng này trước khi công ty đột ngột giải thể sau sáu tháng hoạt động.

Đòn tâm lý từ các buổi hội thảo áp lực cao

Không dừng lại ở việc lừa đảo bán lại, ngay từ khâu tiếp cận mua hàng ban đầu, nhiều người đã bị đưa vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Các buổi hội thảo bán hàng thường được giới thiệu là kéo dài khoảng 90 phút với những phần quà hoặc kỳ nghỉ miễn phí để thu hút khách tham dự. Tuy nhiên, thực tế diễn ra có thể kéo dài liên tục trên 4 tiếng đồng hồ.

Trong suốt thời gian này, các nhóm nhân viên kinh doanh sẽ liên tục thay phiên nhau thuyết phục, áp dụng các chiến thuật thao túng tâm lý để làm kiệt quệ sự phòng bị của người nghe.

Họ vẽ ra viễn cảnh đây là một khoản đầu tư tài chính thông minh, có giá trị sinh lời cao nhưng lại lấp liếm đi các khoản chi phí phát sinh bắt buộc như phí bảo trì hằng năm hay các điều khoản ràng buộc pháp lý chặt chẽ. Áp lực mua hàng càng đẩy lên cao khi nhân viên đưa ra các mức giá ưu đãi với điều kiện duy nhất là phải ký hợp đồng ngay tại chỗ.

Nghiêm trọng hơn, một số đường dây lừa đảo cho thuê kỳ nghỉ còn giả mạo thông tin của các luật sư đã qua đời để tạo dựng lòng tin tuyệt đối với nạn nhân. Đơn cử như trường hợp một khách hàng tên Edgar đã bị lừa chuyển khoản 4.000 USD cho một tổ chức sử dụng danh nghĩa của một luật sư đã mất trước đó 4 năm tại New Jersey để làm giả các tài liệu chuyển nhượng.

Bẫy sở hữu kỳ nghỉ tại các nước ra sao? - 2

Kẻ lừa đảo đang nhắm vào những người chủ sở hữu kỳ nghỉ (timeshare) với các mánh khóe có thể khiến bạn mất hàng nghìn USD (Ảnh: Aaronson).

Bài học bảo vệ tài chính từ các bước “kiểm tra vàng”

Trước những bẫy rủi ro bủa vây, người tiêu dùng cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt trước khi ký kết bất kỳ giao dịch nào.

Quy tắc đầu tiên là tuyệt đối không đóng thêm bất kỳ khoản phí nào cho các bên thứ ba hứa hẹn “bán lại kỳ nghỉ với giá cao” nếu không có thỏa thuận ba bên chính thức từ chủ đầu tư gốc và người mua mới. Bên cạnh đó, đơn vị môi giới trung gian phải được cấp chứng chỉ hành nghề hoặc là bên trung gian thương mại được pháp luật cho phép hoạt động.

Để phân biệt các đơn vị uy tín, khách hàng nên lưu ý mốc thời gian thanh toán và cam kết. Theo bà Lisa Lake từ FTC, các đơn vị bán lại hợp pháp chỉ thu phí sau khi giao dịch đã hoàn tất thành công, đưa ra đánh giá thực tế và cần từ 6-18 tháng để đàm phán chấm dứt hợp đồng hợp pháp hoặc hoàn trả quyền sở hữu.

Ngược lại, kẻ lừa đảo sẽ đòi tiền trước dưới danh nghĩa phí tiếp thị hay phí thủ tục dao động 500-5.000 USD, đồng thời đưa ra các lời hứa viển vông như “có sẵn người mua” hay “bán nhanh chóng” từ 30-90 ngày, thậm chí khuyên khách hàng ngừng thanh toán phí bảo trì để vỡ nợ chiến lược.

Cộng đồng cũng được khuyến nghị áp dụng các bước “kiểm tra vàng” bao gồm việc xác minh thực tế giấy phép hoạt động, quyền sở hữu hoặc quyền khai thác khu nghỉ dưỡng của đơn vị bán. Tiếp theo là rà soát kỹ các điều khoản về quyền chuyển nhượng, nghĩa vụ của bên thứ ba và các khoản phí ẩn.

Cuối cùng là áp dụng quy tắc “không nóng vội”. Bất kỳ giao dịch nào ép ký ngay tại chỗ dưới áp lực hoặc từ chối cho khách hàng mang dự thảo hợp đồng về tham vấn luật sư và người thân đều là những tín hiệu cảnh báo đỏ mà người tiêu dùng cần lập tức quay lưng bước đi.

Sở hữu kỳ nghỉ bản chất là một sản phẩm dịch vụ tiêu dùng dài hạn chứ không phải một kênh đầu tư tài chính có tính thanh khoản cao. Khi thị trường xuất hiện những lời chào mời mang lại lợi nhuận lớn một cách nhanh chóng đi kèm điều kiện chuyển tiền trước, đó chính là dấu hiệu “cảnh báo đỏ” mà bất kỳ ai cũng cần phải tránh xa.

Dưới góc nhìn chuyên gia, Luật sư Lê Hiếu từ Công ty Luật TNHH Hiếu Hùng đã chỉ rõ bản chất pháp lý và sự biến tướng nguy hiểm của mô hình này tại Việt Nam.

Về cốt lõi, sở hữu kỳ nghỉ là một loại hình dịch vụ du lịch trả trước, nơi khách hàng trả một khoản tiền lớn để có quyền nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định hàng năm suốt nhiều thập kỷ. Rắc rối nảy sinh khi xuất hiện sự lai tạp giữa mô hình này với phương thức bán hàng đa cấp bất chấp lợi nhuận, dẫn đến các hành vi vi phạm nghiêm trọng.

Sự biến tướng này thể hiện qua việc doanh nghiệp sử dụng các chiêu trò telesale, quảng cáo sai sự thật về lợi nhuận đầu tư, khả năng dễ dàng chuyển nhượng, hoặc cam kết đẳng cấp 5 sao trong khi chưa hề sở hữu hạ tầng thực tế. Khi mạng lưới được phát triển thông qua việc lôi kéo người khác, tập trung vào hoa hồng tuyển dụng hơn là giá trị nghỉ dưỡng thực tế, mô hình kinh doanh này đã bị lợi dụng để trục lợi.

Theo ông Hiếu, các hành vi này có dấu hiệu cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Việc dùng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai lệch về dự án, năng lực cung cấp dịch vụ hay khả năng sinh lời nhằm mục đích khiến khách hàng tin tưởng giao tiền chính là hành vi khách quan của tội danh này.

Đáng chú ý, trách nhiệm hình sự không chỉ thuộc về người điều hành doanh nghiệp, mà ngay cả nhân viên tư vấn biết rõ sự thật nhưng vẫn cố tình gian dối để dụ dỗ, ép buộc khách hàng, hay các bên thứ ba tham gia vào quy trình “hỗ trợ chuyển nhượng” giả mạo đều có thể bị truy cứu với vai trò đồng phạm giúp sức hoặc thực hành.

Đặc biệt, đối với các giao dịch mua bán hay chuyển nhượng lại gói kỳ nghỉ cho bên thứ ba, vị luật sư nhấn mạnh các hợp đồng này thường bị vô hiệu. Theo quy định pháp luật về hợp đồng, việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ bắt buộc phải có sự thỏa thuận hoặc xác nhận của các bên liên quan, cụ thể là chủ đầu tư dự án ban đầu.

Các hợp đồng chuyển nhượng thông qua các “bên thứ ba” trong các vụ án lừa đảo thực chất chỉ là “hợp đồng ảo” được vẽ ra nhằm thu phí đặt cọc và phí thủ tục. Việc thiếu vắng sự xác nhận của chủ đầu tư ban đầu khiến hợp đồng hoàn toàn không có giá trị pháp lý để thực hiện.

Nguồn: Dân Trí