Những di chỉ khảo cổ thuộc văn hóa Soi Nhụ, Cái Bèo và Hạ Long cho thấy con người đã sinh sống tại đây khoảng 18.000 năm trước. Cư dân cổ Quảng Ninh sống bằng đánh bắt hải sản, khai thác nguồn lợi ven bờ. Tên gọi vùng đất liên tục thay đổi. Thời Đinh – Tiền Lê, Quảng Ninh thuộc trấn Triều Dương, thời Lý là châu Vĩnh An, thời Trần là lộ Hải Đông, đến thời Lê và Nguyễn là An Bang.
Dù mang tên gì, Quảng Ninh cổ xưa luôn là địa bàn có ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Các triều đại phong kiến sớm nhận ra lợi thế của vùng biển Đông Bắc. Những đảo đá vôi ngoài khơi không chỉ tạo thành phòng tuyến tự nhiên mà còn hình thành các bến cảng thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu và giao thương.
Sách Đại Nam nhất thống chí viết về Quảng Ninh: “Đất, nhân thế núi làm thành, dựa chỗ cao mà giữ hiểm, có núi để tựa, có biển để vòng quanh, địa thế xa lánh mà hiểm yếu, trong thì giữ vững cương vực, ngoài thì khống chế đất Thanh. Núi cao có Lôi Âm, sông lớn có Bạch Đằng. 22 cửa biển, 10 đồn ải, hải đảo quanh co, sông bến khuất khúc, cũng là nơi then chốt ở ven biển”.
Năm 1149, vua Lý Anh Tông cho lập thương cảng Vân Đồn – thương cảng đầu tiên của Đại Việt. Các đoàn thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều quốc gia Đông Nam Á mang hàng hóa đến trao đổi. Gốm sứ, tơ lụa, hương liệu, sản vật địa phương theo những cánh buồm vượt biển, đưa Đại Việt kết nối với mạng lưới thương mại khu vực.
Một khu dân cư năm 1920, ngày nay thuộc thị xã Quảng Yên. Phía xa là vịnh Hạ Long. Ảnh: Tư liệu
Thời vua Gia Long, Quảng Ninh là trấn An Quảng. Trong cuộc cải cách hành chính quy mô lớn của vua Minh Mạng vào năm 1831, trấn được đổi thành tỉnh Quảng Yên, diện tích bao gồm toàn bộ phần đất tỉnh Quảng Ninh cùng một phần bờ tả ngạn sông Thái Bình thuộc Hải Phòng ngày nay.
Một sự kiện mang tính bước ngoặt diễn ra vào ngày 10/1/1840, khi vua Minh Mạng ra chỉ dụ cho phép Tổng đốc Hải Yên (gồm Hải Dương và Quảng Yên) là Tôn Thất Bật khai thác than đá tại núi Yên Lãng (Đông Triều), mở ra ngành khai thác than và khoáng sản ở Đại Việt.
Thủ phủ ngành than
Sau khi chiếm được Hòn Gai và vùng duyên hải Đông Bắc, năm 1883 thực dân Pháp nhận ra giá trị kinh tế to lớn của các mỏ than nằm dưới lòng đất Quảng Ninh. Những cuộc khảo sát địa chất cuối thế kỷ XIX xác định nơi đây sở hữu trữ lượng than lớn hàng đầu Đông Dương.
Chính quyền thực dân Pháp ép triều đình nhà Nguyễn ký hiệp định nhượng quyền khai thác vùng mỏ cho các công ty tư bản Pháp vào năm 1888. Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (SFCT) được thành lập, nắm quyền kiểm soát tuyệt đối vùng mỏ Hòn Gai – Cẩm Phả.
Để dễ bề quản lý khu vực khai thác than riêng biệt với khu vực nông nghiệp và quốc phòng, người Pháp chia khu mỏ thành ba địa giới hành chính: Tỉnh Quảng Yên (về cơ bản phạm vi của Quảng Yên vẫn như hiện nay, có thêm huyện Cát Hải, Thủy Nguyên của Hải Phòng và huyện Sơn Động của tỉnh Bắc Giang, huyện Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách của tỉnh Hải Dương cũ); tỉnh Hải Ninh (gồm toàn bộ khu vực miền Đông của tỉnh và huyện Na Dương, Đình Lập, Lộc Bình của Lạng Sơn) và đặc khu Hòn Gai.
Mỏ than lộ thiên ở Hòn Gai vào những năm 1920-1929. Núi than được khai thác theo hình bậc thang với các đường ray và xe đẩy do công nhân vận hành. Ảnh; Tư liệu
Hàng loạt mỏ than được mở rộng tại Hòn Gai, Cẩm Phả, Mạo Khê, Uông Bí. Cảng biển, đường sắt và nhà máy tuyển than được xây dựng phục vụ khai thác và xuất khẩu than. Lợi thế ven biển giúp than từ các mỏ dễ dàng được vận chuyển tới các cảng nước sâu rồi lên tàu đi châu Âu và nhiều thị trường khác.
Để có lao động, chủ mỏ người Pháp về các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Thái Bình, Ninh Bình, Hải Dương… tuyển chọn, đồng thời sử dụng tù nhân từ các cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Sản lượng khai thác than từ khoảng 3.000 tấn năm 1890 đã tăng lên hơn 500.000 tấn năm 1913 và đạt 2.615.000 tấn vào năm 1939.
Ngành khai thác than biến những làng chài và khu dân cư nhỏ ven biển trở thành đô thị công nghiệp sầm uất. Tuy nhiên, trong các hầm lò sâu hàng trăm mét, công nhân phải làm việc trong điều kiện thiếu an toàn. Chế độ đãi ngộ thấp và sự bóc lột nặng nề của chủ mỏ đã thổi bùng lên các phong trào đấu tranh.
Từ tỉnh đến cơ hội lên thành phố trực thuộc trung ương
Ngay sau giải phóng, ngày 22/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng, hợp nhất thị xã Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên cũ (ngoại trừ các huyện Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh cắt về Hải Dương và Thủy Nguyên cắt về Hải Phòng). Sự kết hợp này nhằm tối ưu hóa việc quản lý khu công nghiệp than tập trung và vùng đệm nông nghiệp xung quanh.
Đến đầu thập niên 1960, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và củng cố an ninh quốc phòng đặt ra bài toán cần hợp nhất các đơn vị hành chính lớn hơn. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Ninh và Khu ủy Hồng Quảng họp và nhất trí kiến nghị Trung ương hợp nhất hai đơn vị.
Ngày 30/10/1963, tỉnh Quảng Ninh được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng, diện tích tự nhiên 6.206,9 km2. Quảng Ninh sau sáp nhập hội tụ đầy đủ các yếu tố chiến lược: vùng than lớn nhất cả nước, hệ thống cảng biển quan trọng, đường biên giới dài với Trung Quốc và vùng biển đảo rộng lớn trên vịnh Bắc Bộ.
Giống như cả nước, Quảng Ninh mất khoảng 10 năm loay hoay trong thời kỳ bao cấp. Cho đến sau đổi mới 1986, tỉnh dần tìm được động lực phát triển mới. Ngành than tiếp tục giữ vai trò trụ cột năng lượng quốc gia, trong khi các hoạt động thương mại biên giới được khôi phục mạnh mẽ. Móng Cái trở thành cửa ngõ giao thương mậu dịch quan trọng bậc nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Năm 1993, Chính phủ quyết định thành lập thành phố Hạ Long trên cơ sở địa giới thị xã Hòn Gai cũ. Đến ngày 17/12/1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới lần thứ nhất về giá trị thẩm mỹ, đưa Quảng Ninh từ một tỉnh thuần công nghiệp nặng bước lên bản đồ du lịch quốc tế.
Từ một địa phương phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác than và trợ cấp Trung ương, tỉnh đã chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” (dựa vào khoáng sản) sang “xanh” (dựa vào du lịch, dịch vụ và kinh tế số), đi đầu trong huy động nguồn lực xã hội hóa để làm hạ tầng.
Trong hơn một thập niên, Quảng Ninh hình thành mạng lưới giao thông đồng bộ với cao tốc chạy dọc tỉnh, sân bay quốc tế Vân Đồn, cảng tàu khách quốc tế Hạ Long cùng hàng loạt tuyến đường ven biển, xuyên núi, băng sông. Khoảng cách di chuyển từ Hà Nội đến Hạ Long được rút ngắn. Các cực phát triển mới như Vân Đồn, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí có thêm dư địa phát triển.
Cầu Bãi Cháy nằm ở trung tâm tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Lê Tân
Theo Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh luôn duy trì ở mức trên 10% trong 9 năm liên tiếp (2015-2023). Quảng Ninh cũng xác lập kỷ lục 7 năm đứng đầu bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
Ngày 7/4, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới tỉnh hiện nay, định hướng phát triển xanh, hiện đại, giàu bản sắc. Ngày 1/6, HĐND tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026-2031 biểu quyết thông qua nghị quyết về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh.
Thành phố Quảng Ninh được định hướng phát triển theo mô hình đô thị xanh, thông minh, tái cấu trúc không gian theo hướng tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới và di sản thành một hệ sinh thái phát triển. Địa phương chuyển từ mô hình phân tán sang đa trung tâm, tăng tính kết nối và liên kết vùng.
Cùng với đó, Quảng Ninh mở rộng không gian tăng trưởng với các động lực chính là khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; phát triển đồng bộ kinh tế xanh, kinh tế biển, kinh tế di sản, kinh tế biên giới, kinh tế ban đêm và công nghiệp văn hóa.
Lê Tân
Nguồn tham khảo: Sách Địa chí Quảng Ninh, Quảng Ninh xưa và nay, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
Bài tiếp: Những quyết sách giúp Quảng Ninh bứt phá
Nguồn: VnExpress